Vai trò của ngữ cảnh đối với việc hiểu nghĩa của một phát ngôn.

Cho đến nay khái niệm về ngữ cảnh chưa có sự thống nhất, nhưng về cơ bản có thể hiểu: Ngữ cảnh chính là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo lời nói.Như vậy có thể hiểu mỗi một phát ngôn đều được sản sinh ra trong một bối cảnh nhất định, muốn lĩnh hội được đầy đủ, chính xác câu đó ta phải đặt nó trong bối cảnh mà nó ra đời. Bối cảnh đó được gọi là ngữ cảnh.

Các nhân tố của ngữ cảnh thường được nói tới đó là:

          - Nhân vật giao tiếp bao gồm người nói (viết) và người nghe (đọc). Mỗi người có một vị thế nhất định: vị thế XH (trên, dưới, bình đẳng), vị thế giao tiếp (quyền chủ động hay bị động). Các vị thế này hình thành quan hệ giao tiếp (thân mật, gẫn gũi, khách sáo quan cách, nhiệt tình, hờ hững…). Khi giao tiếp đòi hỏi các nhân vật giao tiếp phải có sự hiểu biết lẫn nhau.

          - Hoàn cảnh giao tiếp: bao gồm hoàn cảnh giao tiếp rộng (toàn bộ những nhân tố xã hội, địa lí, chính trị, kinh tế văn hóa, phong tục…tạo nên bối cảnh văn hóa của một đơn vị ngôn ngữ) và hoàn cảnh giao tiếp hẹp (nơi chốn, thời gian phát sinh câu nói cùng với những sự việc, hiện tượng xảy ra xung quanh).

- Hiện thực được nói tới: Đó có thể là hiện thực bên ngoài các nhân vật giao tiếp hoặc là hiện thực tâm trạng của con người.

- Ngữ huống: Những thay đổi theo diễn biến của cuộc giao tiếp: nhân vật giao tiếp mới xuất hiện, nhân vật giao tiếp cũ không tiếp tục tham gia giao tiếp nữa, trạng thái tâm lí, trạng thái hiểu biết, ý đồ, đề tài....thay đổi.

- Văn cảnh: là các đơn vị ngôn ngữ đi trước và đi sau một đơn vị ngôn ngữ nào đó tạo nên văn cảnh của nó.

Mỗi một nhân tố trên đóng một vai trò nhất định trong việc tạo lập lời nói phù hợp và lĩnh hội đầy đủ, thấu đáo lời nói của người mà mình giao tiếp.

Ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong việc tạo lập văn bản và lĩnh hội văn bản

          1- Đối với quá trình sản sinh văn bản (nói, viết): Ngữ cảnh chính là môi trường sản sinh ra các phát ngôn giao tiếp, nó chi phối cả nội dung và hình thức của phát ngôn.

          Việc dùng từ đặt câu phải phù hợp về ngữ nghĩa và ngữ pháp với các từ ngữ khác được dùng trong văn bản, phải phù hợp với quan hệ giữa người viết và người đọc (về vị thế, về quan hệ thân sơ, trạng thái tâm lí…), phải phù hợp với cách thức giao tiếp (viết hay nói) và tình huống giao tiếp cụ thể (giao tiếp có tính chất nghi lễ hay không có tính chất nghi lễ)

     Ví dụ: Cùng một nội dung là hỏi xem người giao tiếp với mình "ăn cơm chưa?" nhưng nếu người giao tiếp với mình là bạn bè, có vị thế bình đẳng, ngang hành, quan hệ thân mật thì ta có thể hỏi: "Mày ăn cơm chưa?" thậm chí có thể hỏi trống không: " Ăn cơm chưa?" . Nhưng nếu người giao tiếp với mình là người bề trên (trên về tuổi tác hoặc địa vị ...) thì ta lại phải thể hiện sự lễ phép , tôn trọng của mình: " Anh (chị, cô, bác…) ăn cơm chưa ạ?". Hay nếu giao tiếp ở những nơi mang tính chất nghi lễ (trong giờ học, trong buổi họp, hội thảo…) thì từ ngữ phải được chọn lọc, thái độ cần nghiêm túc hơn những cuộc giao tiếp không có tính chất nghi lễ (ở ngoài đường, ngoài chợ…).

          Ngoài ra còn cần phải chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp. Vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc giao tiếp. Chẳng hạn, ở Việt Nam ta khi mới gặp nhau lần đầu người ta hay hỏi nhau về tuổi tác thường là để xưng hô cho đúng. Nhưng một số nước trên thế giới việc hỏi tuổi lại bị coi là khiếm nhã. Vì thế việc tìm hiểu phong tục tập quán, nét văn  hóa nơi mình giao tiếp cũng là việc rất quan trọng. Nó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp của mình.

          Tóm lại ngữ cảnh đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo lập văn bản (nói, viết). Muốn đạt hiệu quả giao tiếp cao người nói (viết) cần chú ý đến ngữ cảnh, đến từng nhân tố trong đó.

2 - Muốn lĩnh hội chính xác, thấu đáo một phát ngôn nào đó người nghe (người đọc) cần căn cứ  vào ngữ cảnh. Phải đặt phát ngôn đó vào ngữ cảnh mà nó ra đời, gắn với từng tình huống và diễn biến cụ thể để có thể phân tích, lí giải thấu đáo, hiểu căn kẽ từng chi tiết về nội dung và hình thức.

Chẳng hạn cùng một câu nói: "Anh ăn cơm chưa?" có thể mang nhiều hàm ý khác nhau phụ thuộc vào ngữ cảnh, đó có thể là lời mời cùng đi ăn cho vui hoặc cũng có thể là một lời nhắc trước khi uống thuốc…Tương tự cùng một câu nói như: " Mai tôi đến", tùy theo ngữ cảnh mà có thể hiểu là một lời hứa, một lời thông báo, hay một lời đe dọa…

Như vậy chính ngữ cảnh đã giúp ta hiểu được hàm ý của câu nói, tức cái ý nghĩa đích thực mà người nói hay người viết muốn truyền tải.  

          Trong văn học cũng vậy để có thể hiểu đầy đủ, sâu sắc về một  tác phẩm thì việc tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác và tiểu sử của tác giả đóng một vai trò quan trọng. Bởi vì hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và tiểu sử của tác giả là những yếu tố thuộc ngữ cảnh của cuộc giao tiếp giữa tác giả và người đọc.

          Ví dụ: Muốn hiểu thấu đáo, đầy đủ về bài " Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" chúng ta cần đặt bài văn tế trong hoàn cảnh nó ra đời, tức là phải chú ý đến hoàn cảnh sáng tác và tác giả (nhân vật mà ta đang giao tiếp). Bài văn tế ra đời khi thực dân Pháp xâm lược miền Nam nước ta, gây ra bao đau thương tang tóc cho những người dân hiền lành, lam lũ buộc họ phải đứng lên chống trả trong đó có nghĩa quân cần Giuộc. Tác giả Nguyễn Đình Chiểu là người đã đứng về phía nhân dân dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu, vạch tội ác của TD Pháp và ca ngợi gương đấu tranh hy sinh của những người nông dân Nam Bộ.

          Hay với tác phẩm Thề non nước của Tản Đà, nếu người đọc chỉ chú ý đến ngôn từ mà không chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp, không chú ý đến văn cảnh thì sẽ chỉ thấy một lớp nghĩa đó là tình cảm thủy chung, son sắt giữa non và nước trong hoàn cảnh bị chia ly:

   Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi không về cùng non

       Nhớ lời nguyện nước thề non

     Nước đi chưa lại non còn đứng không

…………..

Dù cho sông cạn đá mòn

Còn non còn nước hãy còn thề xưa

          Nhưng nếu ta đặt bài thơ trong văn cảnh, biết được bài thơ này nằm trong một truyện ngắn cùng tên của Tản Đà. Trong truyện đó, hai nhân vật nam nữ trẻ tuổi cùng nhau xướng họa rồi đề bài thơ này lên một bức tranh sơn thủy. Khi đó ta sẽ khám phá ra được tầng nghĩa thứ hai của bài thơ đó là tình yêu đôi lứa giữa hai nhân vật.

          Chưa hết nếu ta biết được hoàn cảnh rộng: Bài thơ này ra đời vào thời kì đất nước ta bị TDPháp đô hộ đã mấy chục năm, các cuộc khởi nghĩa của ta đều bị thất bại. Nhiều trí thức phải bộc lộ lòng yêu nước bằng những cách kín đáo nhẹ nhàng thì khi đó ta sẽ khám phá ra thêm tầng nghĩa thứ ba của văn bản. Đó là tấm lòng yêu nước thủy chung son sắt của nhà thơ đối với non sông đất nước.

Từ sự phân tích trên đây ta có thể thấy ngữ cảnh có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập và lĩnh hội lời nói. Mỗi một nhân tố trong ngữ cảnh đều đóng một vai trò nhất định, vì thế khi tạo lập văn bản (nói, viết) cũng như khi lĩnh hội chúng ta cần chú ý đến các nhân tố của ngữ cảnh để làm sao cuộc giao tiếp đạt hiệu quả cao nhất.

Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vân
Nguồn: thptsongcong.thainguyen.edu.vn
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 229
Hôm qua : 233
Tháng 06 : 3.963
Năm 2021 : 29.763

Liên hệ

Trường THPT Sông Công, Thành phố Sông Công, Thái Nguyên
Địa chỉ : Phường Thắng Lợi, Sông Công, Thái Nguyên
Điện thoại : 02083862653
Fax :02083862653
E-mail : c3songcong@thainguyen.edu.vn